Thứ Năm, 15/11/2018
Những vướng mắc trong công tác giám định ma túy và một số giải pháp

Ngoài việc giám định để xác định định tính, định lượng chất ma túy, góp phần phát hiện ra các chất ma túy mới đã xâm nhập hoặc đã bị lạm dụng ở Việt Nam, GĐMT còn phát hiện được nhiều thủ đoạn mới, tinh vi trong việc sử dụng các loại tiền chất, tiền chất có trong thành phần thuốc tân dược và hóa chất sử dụng trong các ngành nghề khác để điều chế, sản xuất trái phép chất ma túy; cung cấp thông tin về các loại tiền chất, hóa chất bị lạm dụng để sản xuất trái phép chất ma túy cho các Bộ, Ngành chức năng liên quan biết và phối hợp để kịp thời có biện pháp ngăn chặn, kiểm soát, phòng ngừa; đề xuất bổ sung đưa các chất ma túy mới chưa có trong danh mục vào danh mục cần kiểm soát. Từ năm 2015 đến tháng 9/2017, Viện Khoa học hình sự đã giám định và phát hiện ra gần 30 chất ma túy mới thuộc nhóm cần sa tổng hợp, nhóm chất hướng thần (NPS), nhóm ma túy tổng hợp (ATS) và cathinon. 

Trung bình hàng năm lực lượng KTHS cả nước thực hiện giám định khoảng 21.000 vụ việc GĐMT, chiếm khoảng 25% tổng số yêu cầu giám định ở 11 lĩnh vực giám định KTHS và pháp y CAND, cao hơn rất nhiều so với các lĩnh vực giám định khác. Tuy nhiên, cả nước có khoảng 150 giám định viên, trung bình mỗi Phòng KTHS, Công an các địa phương có chưa đến 02 giám định viên ở lĩnh vực này. Với nguồn nhân lực như vậy thì chưa thể đáp ứng tốt, yêu cầu GĐMT, đặc biệt là tại các thành phố lớn và các địa phương trọng điểm phức tạp về tội phạm ma túy. 

Ngày 29/8/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT), Bộ Công an có Công văn số 2955/C44-P2 hướng dẫn Cơ quan CSĐT Công an các cấp: Đối với những trường hợp không bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng, Cơ quan CSĐT khi ra quyết định trưng cầu giám định (QĐTCGĐ) cần ghi rõ: “Mẫu gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy, tiền chất gì? Trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?”. Đối với cơ quan giám định, trong kết luận giám định (KLGĐ) phải xác định rõ về chất ma túy để phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự; ví dụ như chất Heroin,... không được kết luận “là chế phẩm Heroin” hoặc “có thành phần Heroin”. Để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Giám định tư pháp, trả lời được câu hỏi trong QĐTCGĐ và phù hợp với công văn 2955 là trả lời thẳng vào chất ma túy, sau khi nghiên cứu các tài liệu và thực tiễn trong quá trình giám định, Viện Khoa học hình sự có Công văn 1075/C54(TT2) ngày 01/9/2016 gửi các Phòng KTHS hướng dẫn chuyên môn trả lời KLGĐ: “Mẫu viên nén (chất bột, tinh thể…) gửi giám định có Heroin,…. trọng lượng mẫu là x gam” để đảm bảo khách quan, khoa học, đúng với bản chất của mẫu; trả lời theo yêu cầu, không trái với Công văn 2955: nêu cụ thể chất ma túy (Heroin, Methamphetamine,..), trọng lượng (x gam) là trọng lượng của mẫu gửi giám định. 

Ngày 03/7/2017, Tổng cục Cảnh sát có Công văn số 2101/C41-C44 chỉ đạo Cơ quan điều tra, Cơ quan giám định thực hiện theo hướng dẫn cách hỏi và trả lời KLGĐ, cụ thể cách hỏi theo như hướng dẫn tại Công văn 2955 và cách trả lời: “Mẫu bột/tinh thể/viên nén gửi giám định là ma túy/tiền chất, có trọng lượng (khối lượng) ... gam là (loại): Heroin (Cocain,...)”. Nội dung trả lời theo hướng dẫn tại Công văn 2101 là không sai, tuy nhiên chưa phù hợp với câu hỏi của Công văn 2955 đã nêu (câu hỏi có phải là chất ma túy không, câu kết luận lại hướng dẫn trả lời là ma túy, không phải là chất ma túy). Thực tế, trả lời là ma túy theo Công văn 2101 là đúng (vì trong mẫu có chứa chất ma túy thì phải là ma túy), không thể trả lời là Heroine/Cocain,... (vì Heroine/Cocain,... là những chất ma túy cụ thể). 


Thiếu tướng Ngỗ Sỹ Hiền chỉ đạo cán bộ Viện khoa học hình sự giám định tiền chất. 

Trong thời gian qua, một số cơ quan điều tra vẫn có yêu cầu giám định hàm lượng ma túy ngoài 04 trường hợp quy định tại Thông tư liên tịch 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 4/11/2015 về sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Riêng tất cả các QĐTCGĐ của Cục Cảnh sát ĐTTP về ma túy, Bộ Công an từ trước ngày có Công văn 2955 cho đến nay đều yêu cầu GĐHL ma túy trong mẫu. Ngoài ra, hiện nay Viện Khoa học hình sự vẫn tiếp tục nhận được QĐTCGĐ bổ sung về hàm lượng chất ma túy của Tòa án các cấp trong nhiều loại vụ án ma túy khác nhau. Như vậy, đến thời điểm này vẫn còn việc chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong giải quyết các vụ án về ma túy liên quan đến việc GĐHL chất ma túy. Do đó, nếu không có giải pháp tháo gỡ thì khi cần tranh tụng, giải thích kết luận giám định trước Tòa sẽ rất khó khăn, thậm chí có thể dẫn đến hiểu sai lệch kết quả, cụ thể xin nêu ra một số trường hợp như sau:

Thứ nhất, mẫu giám định có trọng lượng lớn nhưng lượng chất ma túy trong mẫu là rất nhỏ (dạng vết): Khi trả lời theo hướng dẫn tại Công văn 2101 (thuộc các trường hợp không bắt buộc GĐHL) thì toàn bộ khối lượng của mẫu vật được coi là ma túy. Trong khi đó, nếu trưng cầu GĐHL (theo các trường hợp quy định tại Thông tư 08 và các trường hợp khác xét thấy cần thiết do Tòa án trưng cầu) thì không đủ cơ sở để xác định chính xác hàm lượng chất ma túy (chất ma túy trong mẫu ở dạng vi vết). Điển hình: Vụ Xu Yong Jun, người Trung Quốc phạm tội về ma túy xảy ra tại Thái Nguyên, mẫu gửi giám định có trọng lượng 898,855gam. Thành phần chính của mẫu là Benzylisopropylamine (không phải là chất ma túy) còn Methamphetamine trong mẫu lượng lại rất nhỏ, không xác định được hàm lượng. Câu trả lời theo Công văn 2955 và 2101 là: “Mẫu giám định là ma túy, trọng lượng 898,855 gam loại: Methamphetamine”. Như vậy, khi cơ quan điều tra hoặc Tòa án trưng cầu giám định bổ sung về hàm lượng thì không đủ cơ sở khoa học để xác định hàm lượng vì chất ma túy trong mẫu ở dạng vi vết. Hay vụ Nguyễn Đức Hạnh phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 05/9/2017 tại Thái Bình. Cơ quan điều tra thu giữ 10 mẫu (M1 đến M10) gửi giám định, trong đó chỉ có 01 mẫu có chất Methamphetamine (hàm lượng 69,8%), 09 mẫu còn lại chứa chất Benzylisopropylamine và có bám dính lượng rất nhỏ (lượng vết) Methamphetamine. Nếu kết luận: “Mẫu M1 đến M10 gửi giám định đều là ma túy, loại: Methamphetamine” thì sẽ hiểu 10 mẫu này là giống nhau; nếu Tòa án trưng cầu giám định bổ sung về hàm lượng chất ma túy Methamphetamine trong mẫu (trong trường hợp “xét thấy cần thiết”) thì không đủ cơ sở khoa học để xác định chính xác hàm lượng Methamphetamine ở 09 mẫu này. Ngoài ra, trong thực tế đã có nhiều vụ Heroin, Cocain,... được tẩm vào vải, đệm mút,... để cất giấu trong quá trình vận chuyển, hay như XLR-11 được phun tẩm vào các loại cây cỏ, thực vật khô,... Đây không thuộc 04 trường hợp bắt buộc phải GĐHL theo Thông tư 08, như vậy nếu không GĐHL thì sẽ không thể xác định được khối lượng chất ma túy theo yêu cầu. 

Thứ hai, mẫu có chứa nhiều thành phần chất ma túy: Trong quá trình giám định định tính phát hiện nhiều chất ma túy có trong một đối tượng (mẫu) cụ thể. Kết luận theo Công văn 2101 là: “Mẫu viên nén/chất bột… là ma túy, có trọng lượng X gam loại: Heroine, Methamphetamine, MDMA, Ketamine,…”. Như vậy, X gam mẫu giám định là hỗn hợp các chất ma túy có khối lượng định tội, khung khoản khác nhau mà lại không thuộc trường hợp GĐHL, lúc này khi có kết luận sẽ buộc phải tiến hành giám định bổ sung về hàm lượng để tính trọng lượng từng chất ma túy có trong mẫu. Ngoài ra, nếu trường hợp đã phân tích hết mẫu trong quá trình giám định định tính thì khi trưng cầu giám định bổ sung về hàm lượng sẽ không thực hiện được. 

Thứ ba, trường hợp là thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần ở dạng chia liều thì buộc phải GĐHL theo Thông tư 08 (nếu hàm lượng chất ma túy trong đó vượt ngưỡng chia liều của thuốc thì là ma túy). Tuy nhiên, trong trường hợp chính các viên nén đó bị bóc vỏ, vỉ, nghiền thành bột, không ở dạng chia liều, theo Công văn 2101 khi tìm thấy chất ma túy trong mẫu thì phải kết luận là ma túy, điều này là không đúng với bản chất của mẫu. Ví dụ: Viên nén Terpin Codein là thuốc trị ho, khi ở dạng chia liều thì là thuốc nhưng chính thuốc này lại được bóc vỉ, nghiền thành bột hoặc không ở dạng chia liều thì phải kết luận là ma túy, loại Codein (do ở trường hợp này không bắt buộc phải có yêu cầu giám định hàm lượng) không đúng bản chất của mẫu. 

Thứ tư, mẫu thực vật chứa chất ma túy được phun, tẩm chất ma túy như Cỏ Mỹ hoặc mẫu thực vật có cùng họ với cây chứa chất ma túy như cây lanh mèo, gai dầu… đều chứa Tetrahydrocannabinol như cây cần sa nên khi trả lời KLGĐ theo hướng dẫn sẽ không phản ánh đúng bản chất của mẫu. Ví dụ: Trong thời gian qua đã bắt nhiều vụ Cỏ Mỹ, Cỏ Mỹ được tạo ra bằng cách phun tẩm vào một số loại thực vật khô (cây, cỏ không có chất ma túy) các chất ma túy dạng cần sa tổng hợp (ví dụ: XLR-11, JWH-018, JWH-073,.... là những chất ma túy trong danh mục theo Nghị định của Chính phủ). KLGĐ là:“Mẫu thực vật gửi giám định là ma túy, có trọng lượng A gam loại: XLR-11” dẫn đến có thể sẽ hiểu sai thành trọng lượng A gam loại XLR-11 là căn cứ để truy tố, xét xử.  

Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khung hình phạt đối với các chất như nhựa cần sa, nhựa thuốc phiện, cao cô ca,... nhưng trong Nghị định ban hành danh mục các chất ma túy và tiền chất hiện hành của Chính phủ không có tên các chất này mà chỉ quy định Thuốc phiện và các chế phẩm của thuốc phiện; cần sa và các chế phẩm của cần sa. Luật cũng đề cập tội danh đối với quả thuốc phiện tươi, quả thuốc phiện khô song lại chưa có khái niệm hay căn cứ nào để xác định quả tươi, quả khô làm căn cứ trả lời KLGĐ. Việc GĐMT còn gặp khó khăn do thiếu một số mẫu chuẩn ma túy, trong nước hiện chỉ tinh chế được 8 loại chất thường gặp, trong khi có hàng trăm chất ma túy được quy định trong danh mục theo Nghị định của Chính phủ.

Để nâng cao hiệu quả công tác GĐMT, tiền chất trong tình hình hiện nay, chúng tôi xin đề xuất một số nội dung sau: 

Một là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến công tác giám định ma túy, trong đó cần đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật và hướng dẫn thực hiện, đặc biệt là sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc trưng cầu giám định ma túy. Trong đó, đối với cơ quan trưng cầu và cơ quan giám định trong CAND cần phải có sự thống nhất, chỉnh sửa, bổ sung yêu cầu giám định và cách trả lời kết luận giám định theo Công văn 2955 và Công văn 2101, đặc biệt là trong một số trường hợp còn tồn tại, vướng mắc như đã nêu trên để phù hợp với quy định của pháp luật cũng như phù hợp với thực tiễn của quá trình giám định, mục tiêu chung của vấn đề này là để đảm bảo phục vụ tốt nhất cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy. 

Hai là, tiếp tục tăng cường phát triển nguồn nhân lực giám định viên về ma túy ở các cấp cả về số lượng và chất lượng, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn để đội ngũ cán bộ GĐMT Phòng KTHS Công an các địa phương đã triển khai giám định hàm lượng ma túy có thể mở rộng đối tượng mẫu giám định ra ngoài hai loại ma túy phổ biến là Heroin và Methamphetamine. Các Phòng KTHS địa phương còn lại cần chủ động đào tạo bổ sung nguồn nhân lực để chuẩn bị điều kiện cần thiết khi được trang bị máy sắc ký khí là có thể bắt tay triển khai ngay được việc giám định hàm lượng các chất ma túy trong các trường hợp quy định. Tiếp tục duy trì và thiết lập bổ sung hệ thống kiểm soát chất lượng giám định cho tất cả các phòng thí nghiệm giám định ma túy trên toàn quốc.

Ba là, tiếp tục đầu tư bổ sung, ưu tiên đầu tư trang bị mới các phương tiện GĐMT cho Phòng KTHS Công an các địa phương, đặc biệt là đơn vị chưa có máy sắc ký khí để giám định viên thực hiện đúng “Nguyên tắc tiêu chuẩn tối thiểu” quy định trong quy trình giám định chất ma túy do Bộ Công an ban hành; giúp địa phương triển khai giám định tại chỗ được các chất ma túy thường gặp đảm bảo đúng quy trình giám định, Cơ quan điều tra không phải đi lại gửi giám định tốn kém kinh phí, mất thời gian và không đảm bảo thời hiệu tố tụng. 

Bốn là, đảm bảo nguồn mẫu chuẩn phục vụ giám định ma túy, với 08 loại loại ma túy đã có quy trình tinh chế thì cần có nguồn kinh phí thường xuyên để sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của lực lượng giám định ma túy toàn quốc. Với các loại ma túy đang bị lạm dụng, đang lưu hành trên thị trường bất hợp pháp, hoặc dự báo có thể thâm nhập vào nước ta mà chưa có mẫu chuẩn thì cần có kinh phí để nhập khẩu các loại mẫu chuẩn này. Đồng thời, tiếp tục đầu tư kinh phí triển khai nghiên cứu tinh chế sản xuất các loại mẫu chuẩn ma túy khác trong điều kiện có thể để dần thay thế các mẫu chuẩn ngoại nhập, giúp chủ động nguồn mẫu chuẩn và tiết kiệm kinh phí cho nhà nước. 

Năm là, tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GĐMT để trao đổi, học hỏi phương pháp GĐMT mới, tiếp cận các công nghệ, thiết bị mới trong GĐMT, công tác phân tích truy nguyên nguồn gốc ma túy,... Từ đó, kịp thời cập nhật các thông tin liên quan đến tình hình ma túy trên thế giới, đặc biệt là các chất ma túy mới để chủ động trong việc phát hiện, giám định và phòng ngừa với các loại ma túy này./.

Bảo Linh

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi